NGHIỆP BÁNH

chuyện đời tôi: đằng sau ánh đèn Las Vegas

cupcake đắt nhất thế giới

1.2 Decadence D’or: “cupcake đắt nhất thế giới”

Lướt nhanh đến câu chuyện về Decadence D’or, chiếc bánh giá $750 được báo chí mệnh danh là “chiếc cupcake đắt nhất thế giới” vào thời điểm đó (2009).

Bối cảnh

The Palazzo – tổ hợp resort, casino & hotel thứ 2 của Venetian tại Las Vegas – khai trương vào tháng 12/2007, 08 năm sau Venetian. 

Đây là thời điểm không thể tệ hơn để bắt đầu kinh doanh một thứ gì đó, đặc biệt khi khách hàng của bạn đang mất tiền. Tháng 12/2007 là thời điểm National Bureau of Economic Research (NBER) tuyên bố nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. 

Đại suy thoái

Cuộc suy thoái này được ghi danh vào lịch sử tài chính thế giới là “The Great Recession” (Đại Suy Thoái) để so sánh sự tương ứng về tầm vóc với cuộc Đại Khủng Hoảng “The Great Depression” năm 1929-1939.

Sau 2 năm suy thoái, theo Business Insider giá trị ròng nền kinh tế Mỹ giảm 19 nghìn tỷ USD, thất nghiệp tăng từ mức 5% lên 10% vào tháng 10/2009, GDP giảm 4,3% mức cao nhất trong 60 năm. 

Khỏi phải nói quãng thời gian này tồi tệ ra sao, vô số công ty phá sản, người người thất nghiệp, nhà nhà bị rao bán. Cuộc suy thoái không chỉ ảnh hưởng đến tầng lớp nghèo và hưu trí mà còn giáng đòn nghiêm trọng vào giới nhà giàu.

Philippines

Phần 5. Hành trình tới nước Mỹ (tỵ nạn tại Philippines)

Trại Morong Bataan, Philippines

Sau 2 tháng, ngày 24/12, trước ngày lễ Noel, tôi và vài trăm người được chuyển tới trại Morong Bataan, Philippines bằng máy bay. Trại Morong Bataan cách thành phố Manila khoảng 3 giờ xe, là nơi tập trung những người được các nước nhận và chờ định cư ở các nước như Đức, Mỹ, Canada…

Tôi ở vùng 5 nên có lớp dạy tiếng Anh. Mỗi căn trại đều có bếp nấu, nhà tắm, bàn, ghế…, có cả quán ăn, quán bia, café. Tôi học tiếng Anh lớp Social Study với hai cô giáo mỗi ngày. Không có thân nhân, nên tôi sống nhờ bạn bè cho café, thuốc lá…

Gửi thư nhiều, nhưng chưa bao giờ tôi nhận được một lá thư nào từ Việt Nam. Càng buồn, tôi càng đâm đầu vào học tiếng Anh cho vơi đi nỗi buồn, nên tiếng Anh của tôi ngày càng khá hơn.

Đảo Pulau Bidong Malaysia

Phần 4. Hành trình tới Mỹ (tỵ nạn tại Malaysia )

Đảo Pulau Bidong, Malaysia

Đây chính là đảo Pulau Bidong, Malaysia. Hành trình của chuyến đi là 14 ngày, kể từ ngày xuống ghe Taxi ở Mỹ Tho. Tất cả ngồi ở bãi cát chờ khai tên tuổi, sơ yếu lý lịch, nhận phòng, nhận tạm vài kí gạo và chai nước mắm. 

Tôi nào có thể quên được mùi của chùm “bánh ú lá tre” tôi mua vội vàng trước khi rời quê hương yêu dấu. Tôi còn nhớ bữa cơm đầu tiên ở đảo Pulau Bidong, Malaysia. Cơm tuy nấu vội vàng nên bị sống, rưới tí nước mắm lên, chao ôi, sao ngon lạ lùng. 

Lá thư đầu tiên viết trên đảo vỏn vẹn vài câu với nội dung “Anh đã đến đảo Pulau Bidong, anh bình an. Em giữ gìn sức khoẻ!” Ngoài bì thư ghi: “Nguyễn Văn Long, tàu 651”.

thuyền nhân

Phần 3: Hành trình tới nước Mỹ (trở thành thuyền nhân)

Trở thành thuyền nhân

Có lẽ cả đời này tôi không thể quên được hành trình đầy hoảng sợ và nước mắt với tư cách là một thuyền nhân để tới được nước Mỹ.

Từ cuộc đưa tiễn

3/5/1982, anh bạn tên Việt xuống nhà, bảo tôi đi cùng. Vợ tôi không muốn cho đi, nhưng người bạn bảo: “Vậy thôi, mày đưa tao xuống Mỹ Tho rồi về”. 

Tối đó, tôi chỉ mặc trên người mỗi chiếc quần đùi và chiếc áo thun 3 lỗ. Khoảng 3 giờ sáng, ngày 4/5/1982, hành trình bắt đầu. Ngồi trên chiếc xe đò ọc ạch chạy đến Bến Lức là tờ mờ sáng, xe chạy chầm chậm, trong túi có ít tiền, tôi mua một chùm bánh ú lá tre, loại bánh dùng để cúng mùng 5- Tết Đoan Ngọ. 

Xe chạy tới Mỹ Tho lúc 8 giờ sáng, bắt xích lô chạy tới bến ghe Mỹ Tho, ngồi chờ, ngồi chờ, run run, sợ sợ, tôi nói với bạn: “Thôi, tao về Việt ơi”. Việt không muốn tôi về, vì nếu lỡ bể lần nữa thì không ai dẫn đường về.

Khoảng 10 giờ, có người lái “Taxi” tới, “Taxi” ở đây có nghĩa là “ghe nhỏ”. 

Lên thuyền

Tôi vẫn cứ dùng dà, dùng dằng, muốn chia tay bạn từ đây, nhưng Việt bảo, “đưa tao xuống ghe rồi về”. Tôi sợ lộ bởi cứ điều qua tiếng lại, đành đi cùng Việt xuống ghe. Bước chân xuống ghe, là hiểu “thôi rồi” từ đây… 

Phần 2: Tình yêu bắt nguồn từ dĩa cơm

Dĩa cơm cuộc đời

Giờ ngồi ngẫm lại, tôi mới thấy, hóa ra hành trình cuộc đời của mình thường hay liên quan tới… ẩm thực. Bởi tình yêu của tôi, nói như thế nào nhỉ, lại bắt nguồn từ một dĩa cơm mà cả cuộc đời không có gì làm phai nhạt được mùi vị của dĩa cơm đặc biệt ấy.

Tôi được cử đi học bổ túc thêm tại trường Quản lý Y Tế nằm dưới gốc cầu Công Lý, gần trường Đại học Sư Vạn Hạnh, nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Ngày đầu tiên, vào giờ nghỉ trưa, bước vào căn – tin, tôi tới quầy nói cô quản lý cho tôi một dĩa. Cô hỏi: “Anh có đóng/nạp gạo không?”. Tôi ngơ ngác vì không hiểu nghĩa là sao. Tôi trả lời: “Không”. Cô gái liền bảo “Anh không đóng gạo thì làm gì có cơm”.

Thật ra, khi lãnh nhu yếu phẩm, tôi đã bán hết để lấy tiền café. Tôi không biết phải làm sao, bèn chọn một cái bàn ngồi xuống suy nghĩ mông lung một mình. 

Phần 1. Mùi bánh nướng của tuổi thơ

Bắt nguồn từ nỗi nhớ

Những năm tháng bắt đầu sinh sống trên đất Mỹ, có những đêm không ngủ được, dường như cả một trời ký ức dội về. Nằm vắt tay lên trán, trong trí óc tôi luôn như phảng phất đâu đây mùi thơm của bột, mùi ngầy ngậy của bánh nướng bánh dẻo mỗi mùa trung thu về…

Ở quê hương Bến Tre, nơi cha mẹ, anh chị em tôi sinh sống quây quần đầm ấm trong ngôi nhà ở thôn quê. Cha mẹ tôi vốn là nông dân, ngày ngày chăm chỉ cày cuốc ruộng vườn, cuộc sống nhọc nhằn khó khăn, tằn tiện lắm bởi nhà có 8 miệng ăn (6 người con và cha mẹ). Tôi theo học đến lớp đệ ngũ trường đạo thì nghỉ bởi nếu muốn đi học thì phải xuống huyện khá xa.

Nhà nghèo, nên tôi bỏ dở chuyện học hành, chịu ở nhà phụ cha mẹ đi chăn trâu, làm đồng.

Chuyện đời tôi: đằng sau ánh đèn Las Vegas

Bạn biết không, trong ký ức thời thơ ấu của tôi, mỗi dịp trung thu khi được mẹ mua bánh nướng, tôi nào có dám ăn, mà chỉ dám ngửi mùi hương đậm ngọt của nó. Tôi nhìn chăm chăm vào từng ngón tay của mẹ lúc bẻ chiếc bánh ra, chao ôi, một mùi thơm lan tỏa từ chiếc bánh. Thật kỳ diệu… 

Lớn lên, khi chạm vào bánh, tôi mới nhận ra rằng, bánh trung thu có nhiều công đoạn lắm. Sau Tết là bắt đầu gọt bí đao để ngâm mứt làm nhân và mứt mỡ cũng vậy, ủ đường 5-6 tháng, hồi đó đâu có nhân sẵn như bây giờ, bột bánh và nhân bánh, người anh rể họ của tôi tự làm và hướng dẫn cho tôi.  

Thế nên sau này, trải qua nhiều chặng đường làm nghề, tôi trải nghiệm và sáng tạo thêm nhiều loại bánh theo xu hướng hiện đại như vừa kết hợp truyền thống, vừa thể hiện được sự hiện đại trẻ trung vừa thể hiện được tâm tư tình cảm, và ý nghĩa sâu nặng của chiếc bánh. Hơn tất cả, đó là tình cảm từ người thực hiện làm ra bánh, cho tới người tặng bánh, người nhận bánh, và người hưởng thụ chiếc bánh… Những tưởng chiếc bánh lúc đó không chỉ là một món quà mà hơn tất cả, đó là một sự kết nối tình cảm vô bờ bến. 

Hồi còn nhỏ, vài lần tôi bắt chước mẹ, tập tành làm bánh “thửng” trên cái bếp đun bằng củi của mẹ. Khi củi cháy thành than, tôi gắp từng hòn than hoa bỏ lên nắp nồi, rồi ngồi kiên nhẫn nướng bánh. Có cái chín đều, cái không, nhưng sao vị bánh đó, mùi bánh đó vẫn theo tôi như thuở nào. Rồi những đêm nằm chợt nhớ mùi bột nhào làm bánh nướng bánh dẻo ở bếp nhà ông anh rể, qua Mỹ rồi mà hương vị của ký ức thi thoảng vẫn dội về.  Cả mùi bánh lá tre mua dọc đường đúng ngày Tết Đoan Ngọ 5/5, ngày tôi rời xa Việt Nam. Có lẽ, những kỷ niệm ấy đeo bám lâu như vậy, bởi chúng là một phần của cuộc đời tôi chăng? 

Qua Mỹ, bếp đầu tiên tôi gắn bó là Vista Hotel | New York, đến Terrace On The Park | New York, Newark Club | New Jersey, rồi Venetian & Palazzo | Las Vegas.

Làm cái gì theo mình tới gần cuối cuộc đời, có lẽ, ta gọi đó là duyên nghiệp, là định mệnh chăng?

Powered by WordPress & Theme by Anders Norén